Để người khuyết tật có thể hòa nhập cộng đồng

0

Hoà nhập (HN) là một tiến trình hai chiều để những cá nhân hay thường là nhóm xã hội bị đẩy ra ngoài lề (do những tiến trình không ý thức) có thể trở thành những thành viên bình đẳng như mọi thành viên khác của một xã hội. Một bên xã hội ấy phải tự mở ra để đón tiếp họ bằng cách tự thay đổi mình để tạo những điều kiện thuận lợi như giáo dục thay đổi dư luận và có những chính sách ưu đãi để bù đắp cho những thiệt thòi mà phải gánh chịu.

Lịch sử đối xử với người khuyết tật:

Trong suốt lịch sử loài người do những niềm tin sai lầm người khuyết tật hay bị bạc đãi. Sự dị dạng, bất bình thường, xấu đi bị người xưa lý giải như một sự trừng phạt của Thượng Đế, hay cá nhân khuyết tật bị quỷ nhập… từ đó cha mẹ bỏ con hoặc bị mặc cảm nên dấu con, cũng có khi vì họ sợ những đứa con khác không lấy vợ lấy chồng được. Có người lại nghĩ rằng họ phải đền tội nên cưng con quá mức. Từ cách suy nghĩ này, họ có những cách đối xử không đúng.

Đứa trẻ bị xem như “vứt đi” nên người ta không vui đùa, nựng nịu như các trẻ khác khi em còn nhỏ. Bé thiếu hẳn sự kích thích rất cần thiết để phát triển. Lớn lên một chút thì không cho đi học vì “ học chẳng để làm gì”. Mắc cỡ với hàng xóm họ không cho con ra ngoài, tiếp xúc với người khác làm trẻ bị mất thêm kinh nghiệm giao tiếp để lớn lên. Hoắc vì quá nuông chiều hay thiếu hiểu biết cha mẹ lại làm mọi thứ thay con, từ vệ sinh đến ăn uống. Trẻ bị khuyết tật về vận động thường bị bỏ ngồi một chỗ. Trẻ không phát huy khả năng, không có cơ hội cố gắng để bù đắp cho các khiếm khuyết. Từ đó không thể nào tránh được mặc cảm. Trẻ còn hay bị chọc phá, gọi thằng què, con điên, thằng mủ kèm với tên mẹ đẻ. (Đây là cái tật xấu của người Việt Nam)

Thái độ và hành động của chúng ta xuất phát từ khái niệm hay hình ảnh ta có về bản thân. Hình ảnh ấy hình thành từ những cách nhận xét và đối xử của người xung quanh đối với chúng ta. Với cách đối xử như trên, nhất là khi còn rất nhỏ thật khó nghĩ rằng người khuyết tật tránh được mặc cảm, nghĩa là sự tự đánh giá mình rất thấp. Những lời kêu gọi như “các bạn hãy tự khắc phục mặc cảm “ là không thực tế chút nào. Chính những nhân tố tạo ra mặc cảm mới đáng xóa bỏ một cách triệt để. Nghĩa là cách nhìn và đối xử của xã hội.

Khuyết tật là vấn đề của sự phát triển xã hội

Trình độ phát triển kinh tế, kỹ thuật giúp tạo điều kiện cho cơ sở vật chất, môi trường thuận lợi cho sự xê dịch của người khuýêt tật, các điều kiện trị liệu, phục hồi chức năng, các cơ sở giáo dục đặc biệt, các chính sách bảo trợ…

Nhưng quan trọng hơn nhiều là nhận thức đúng đắn, phương pháp truyền thông tốt giúp giáo dục dư luận có hiệu quả dẫn đến cách đối xử đúng xóa bỏ được mặc cảm, xây dựng lòng tự tin và giúp đỡ người khuyết tật phát triển tài năng.

Nhìn sự khuyết tật từ góc độ phát triển người ta không còn dùng chữ “handicap” (một sự khiếm khuyết vĩnh viễn) để thay vào đó chữ “disability” (sự mất một năng lực có thể được bù đắp bằng tập luyện để phục hồi hay thay thế). Vả lại, như nói ở trên trẻ sinh ra với một mức độ khiếm khuyết nào đó bị mất năng lực nặng hơn do thiếu sự quan tâm, kích thích. Trẻ khuyết lẽ ra phải tập luyện nhiều hơn trẻ bình thường lại bị bỏ bê vì thiếu hiểu biết. Sự phân biệt đối xử làm cho tình trạng nặng thêm nên người ta nhấn mạnh khái niệm “disabling society” (một xã hội làm mất năng lực). Do đó đối tượng tác động không chỉ là người khuyết tật mà chính là xã hội.

Làm gì ?

Gia đình: bổn phận đầu tiên và mang tính quyết định thuộc về cha mẹ:
Phản ứng đầu tiên (đón nhận, thất vọng, buông xuôi, mặc cảm) sẽ ảnh hưởng một cách quyết định và lâu dài. Ngay từ đầu cần kích thích, tập luyện, giáo dục sự tự lập, tập bù đắp cho các khả năng bị khiếm khuyết để trẻ dần dà cảm thấy bình thường và tự tin.

Đối xử bình thường , bình đẳng, không phân biệt, quá ưu hay quá bạc đãi, quá bảo bọc so với trẻ khác trong nhà.

Cho tham gia các hoạt động thể thao, văn hóa, nghệ thuật như trẻ khác nếu được.

Can thiệp sớm, chữa trị, phục hồi kịp thời.

Cho đi học trường chuyên biệt hay tùy trường hợp.

Tham gia các lễ lạc trong gia đình khi có khách.

Giúp công việc nhà như mọi trẻ khác.

Xã hội: giáo dục dư luận nhằm tạo cho bằng được sự thay đổi trong cách nhìn và đối xử với người khuýêt tật.
Công tác xã hội cho người khuyết tật:
Giảm tính từ thiện tạo sự lệ thuộc (ban ơn, bảo bọc) và thụ động trông chờ.

Tăng tính công bằng và phát triển: xây dựng và phát huy năng lực.

Tăng sự tự lực, tự tin, xây dựng các nhóm tự giúp cho và do người khuyết tật.

Đào tạo kỹ năng lãnh đạo cho người khuyết tật, đưa họ vào vị trí lấy quyết định

Đẩy mạnh phục hồi tại vì nó đem lại hiệu quả cho trẻ và giáo dục dư luận rất tốt.

Giáo dục:
Đẩy mạnh giáo dục hoà nhập.

Đào tạo nhiều nhân viên CTXH cho lĩnh vực khuyết tật; tạo điều kiện cho người khuyết tật học cao lên.

Luật, chính sách cụ thể cho từng lãnh vực như giáo dục, lao động, an sinh xã hội, bảo hiểm y tế, đi lại, tham gia chính trị… Giáo dục dư luận thật mạnh mẽ trong cán bộ nhân viên để họ thực thi công bằng xã hội.
Người khuyết tật vừa tích cực đóng góp cho xã hội vừa biết đòi QUYỀN của mình. Phải có những chuyên gia pháp chế là người khuyết tật.
Người khuyết tật tự chứng minh bằng năng lực, sự dấn thân cho người đồng cảnh, sửa đổi hình ảnh về chính bản thân và tạo một hình ảnh tốt đẹp về tập thể khuyết tật bằng sự trong sáng và đoàn kết.

Nói hoà nhập là một tiến trình hai chiều nhưng trong tình hình hiện nay xã hội cần tích cực hơn nhiều và cần hành động nhanh chóng. Mức độ phát triển của xã hội sẽ được kiểm chứng bằng vị trí của người khuyết tật.

Theo drdvietnam.com

Tags: , ,
Share.

About Author

Leave A Reply