Hội người khuyết tật

0

Hội , là hình thức tổ chức cao nhất của , được quy định trong Điều 9, khoản 1 Luật : “Tổ chức của là tổ chức xã hội được và hoạt động theo quy định của pháp luật để đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên là , tham gia xây dựng, giám sát thực hiện chính sách, pháp luật đối với .”

Người khuyết tật Hà Nội trong một cuộc họp thành lập Hội, ngày 18 tháng 3 năm 2005

Như vậy, là tổ chức xã hội hay còn gọi là tổ chức đoàn thể xã hội không phải là các tổ chức chính trị xã hội, được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện theo quy định của pháp luật (Nghị Định 45/2010/NĐ-CP, Ngày 21 tháng 4 năm 2010 – QUY ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ HỘI).

Hội viên của Hội người khuyết tật phải là người khuyết tật, trong một số trường hợp nhất định hội người khuyết tật có thể có: Hội viên đại diện (người đại diện cho người khuyết tật) hoặc Hội viên danh dự… không phải là người khuyết tật, tuy nhiên những hội viên này có thể sẽ bị hạn chế quyền hội viên trong các công việc quan trọng của Hội, được quy định rõ trong Điều Lệ Hội. Trong trường hợp tổ chức Hội có hội viên là người không khuyết tật thì đó là tổ chức vì người khuyết tật (quy định trong Điều 9, khoản 2 Luật người khuyết tật).

Như chúng tôi đã giới thiệu ở trên, Hội người khuyết tật là hình thức tổ chức cao nhất của người khuyết tật. Hội có 4 cấp độ, Hội người khuyết tật cấp quốc gia, hội người khuyết tật cấp tỉnh/thành phố, hội người khuyết tật cấp quận/huyện, và hội người khuyết tật cấp xã/phường. Ở Việt Nam, chưa có Hội người khuyết tật cấp quốc gia, và cũng mới chỉ có một số hội người khuyết tật cấp tỉnh/thành phố, hội người khuyết tật cấp quận huyện. Ta có thể kể đến các hội người khuyết tật: Hà Nội, Hà Giang, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Đà Nẵng, Huế, … Vĩnh Bảo – Hải Phòng, Đà Lạt – Lâm Đồng,… Đâu đó chúng ta thường nghe tới Hội thanh niên khuyết tật, như hội thanh niên khuyết tật Hà Nội, hội thanh niên khuyết tật thành phố Hồ Chí Minh, hội thanh niên khuyết tật Thái Bình… cũng gọi là Hội, tuy nhiên những Hội này không phải được thành lập theo quy định của nghị định 45, mà được thành lập trên các quyết định thành lập của Hội Liên hiệp thanh niên, là tổ chức đoàn kết tập hợp thanh niên. Điểm phân biệt ở đây là pháp nhân, hội thành lập theo nghị định 45 có tư cách pháp nhân, có con dấu và được thực hiện các quyền của pháp nhân, còn hội thanh niên khuyết tật thì không có pháp nhân, không có con dấu riêng mà hoạt động dự trên pháp nhân của hội liên hiệp thanh niên. Một số hình thức tổ chức thấp hơn của người khuyết tật, thường là tiền đề để thành lập hội người khuyết tật như, nhóm tự lực, hay câu lạc bộ cũng được thành lập, nhưng dựa hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện và cam kết của thành viên, tôn trọng pháp luật mà không có ý chí của cơ quan có thẩm quyền trong việc ra quyết định thành lập.

Một trường hợp tổ chức đặc biệt là hình thức trung tâm, có thể là trung tâm có pháp nhân hoặc không có pháp nhân nhưng mục đích, chức năng hoạt động của trung tâm không phải là do ý chí của đông đảo hội viên mà là ý chí của ban giám đốc, ngoài ra còn một số hình thức tổ chức khác như quỹ từ thiện, quỹ học bổng…

Như vậy có thể nói Điều 9, khoản 1 luật người khuyết tật, là nhằm nói đến Hội người khuyết tật. Và có lẽ trong lần sửa đổi tới, nên chăng sửa đổi từ “tổ chức” thành từ “hội”?

Vì được thành lập trên ý chí của hội viên (Đại hội đại biểu thành lập hội) nên Hội người khuyết tật đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên, và được tham gia xây dựng, giám sát thực hiện chính sách, pháp luật đối với người khuyết tật. Điều này thể hiện tính đại điện của hội và quyền được tham gia của người khuyết tật vào các vấn đề có liên quan mà cao nhất là được tham gia xây dựng, giám sát thực hiện chính sách và pháp luật đối với người khuyết tật.

Trịnh Công Thanh

Chia sẻ

Tác giả

Chào bạn, cảm ơn bạn đã ghé thăm và đọc bài viết từ PWD.VN

Đăng bình luận